1. Một là nhà khoa học vĩ đại nhất:
– Các nhà khoa học đều đi khám phá thực tại để hiểu biết đúng sự thật thực tại, nhưng họ chỉ có thể khám phá được một số tương tác giữa vật chất với vật chất, đạt được một số hiểu biết về thế giới vật chất nhưng đều dựa trên nền tảng nhị nguyên Tâm Vật, cho rằng thực tại này là Thế giới vật chất nên không thể đạt được hiểu biết đúng sự thật về Thực tại. Các kiến thức mà khoa học khám phá được với mục đích thay đổi thế giới, thay đổi hoàn cảnh sống giúp cho loài người hết khổ nhưng sự thật những kiến thức ấy đã phần nào cải thiện cuộc sống của nhân loại nhưng nó chỉ giảm thiểu được tối đa là 10% nỗi khổ (khổ thân) của nhân loại còn 90% nỗi khổ (khổ tâm) vẫn y nguyên, thậm chí còn trầm trọng hơn trước. Biểu hiện là cuộc sống càng giàu sang, càng hiện đại thì càng áp lực, càng căng thẳng và kết quả là hội chứng trầm cảm, tự sát ngày càng tăng nhanh.
– Đức Phật cũng khám phá sự thật thực tại nhưng là người duy nhất, có một không hai, khám phá ra sự thật thực tại, hiểu biết đúng sự thật thực tại mà con người thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức là Cảm thọ, tiếng Việt là Cảm giác do sáu giác quan tương tác với Thế giới vật chất mà phát sinh ra. Những kiến thức mà Ngài khám phá, phát hiện ra là những kiến thức chủ yếu về Tâm chứ không phải kiến thức về Thế giới và những kiến thức đó có thể giúp cho nhân loại giảm thiểu, chấm dứt được từ 90% đến 99% những nỗi khổ của con người.
2. Hai là Đức Phật là nhà giáo dục vĩ đại:
– Các nhà giáo dục thế gian giảng dạy các kiến thức mà khoa học và nhân loại khám phá nhằm thay đổi thế giới, thay đổi hoàn cảnh sống để hết khổ. Các kiến thức truyền dạy đó đều nhuốm màu vô minh và chấp ngã nên nó chỉ có thể giảm thiểu được khổ thân, không giảm thiểu được khổ tâm nên chỉ giảm thiểu được tối đa 10% nỗi khổ của nhân loại. Các kiến thức đó không giải quyết được bạo lực, không giải quyết được xung đột, tranh chấp, tranh giành, cạnh tranh khốc liệt giữa con người với nhau nên hoàn cảnh có thay đổi nhưng nỗi khổ của con người vẫn y nguyên, không thay đổi mà chỉ đổi cái khổ này lấy khổ khác mà thôi. Các kiến thức đó đa phần là đúng cho nhóm người này nhưng không đúng cho nhóm người kia, đúng cho chỗ này nhưng không đúng cho chỗ kia, đúng cho thời gian này nhưng không đúng cho thời gian kia nên không có tính phổ quát, không phải là hiểu biết đúng sự thật, không phải chân lý. Vì chân lý là sự thật là hiểu biết đúng sự thật thì mang tính phổ quát, nghĩa là phải đúng cho tất cả mọi người, cho tất cả nhân loại.
– Đức Phật giáo dục, giảng dạy các kiến thức mà Ngài đã tự mình khám phá. Các kiến thức đó là hiểu biết đúng sự thật, là chân lý nên đúng cho toàn thể nhân loại. Các kiến thức đó chủ yếu là hiểu biết đúng sự thật về Tâm, không còn vô minh và chấp ngã, làm thay đổi lộ trình Tâm nên chấm dứt được từ 90% đến 99% nỗi khổ. Các kiến thức đó làm chấm dứt được nguyên nhân phát sinh khổ tâm, chấm dứt được nguyên nhân của bạo lực, xung đột, tranh chấp, tranh giành, cạnh tranh khốc liệt giữa con người với nhau. Ngài giảng dạy kỹ năng sống thích nghi với mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng, Ngài giảng dạy kỹ năng chấm dứt khổ ngay bây giờ và tại đây trong đó có kỹ năng chú tâm liên tục mà thuật ngữ Phật học gọi là Thiền định.

