Nhiều người tu học Phật giáo hiểu biết sai lạc, hiểu biết không đúng sự thật về tâm. Đa phần hiểu tâm qua hình ảnh: tâm như con vượn chuyền cành. Nghĩa là, tâm như là một cấu trúc nguyên một khối (con vượn) di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia, nắm bắt từ cái này đến cái kia (chuyền từ cành nọ đến cành kia). Tâm theo kiểu “nguyên một khối” ấy chứa đựng nhiều thứ, nhiều tính năng, nhiều năng lực. Và tâm ấy là chủ nhân, chủ sở hữu của thân, điều khiển mọi lời nói, mọi hành động của thân, là chủ nhân tạo tác các nghiệp thiện ác. Nhiều trường phái Phật Giáo theo chủ nghĩa cơ giới cổ xưa xem tâm như một cỗ máy đang vận hành và hình dung nó như một bộ máy công quyền của một quốc gia gồm: Tâm vương như một ông thủ tướng điều khiển bộ máy và các tâm sở như các ông bộ trưởng chịu sự chi phối điều khiển của Tâm vương. Quan hệ giữa Tâm vương và Tâm sở là quan hệ phụ thuộc, quan hệ chủ nhân, chủ sở hữu. Nhiều trường phái Phật Giáo ví tâm chúng sanh như một con thú hoang (Ấn Độ là voi, Trung hoa là trâu) chưa được điều phục và tu hành là điều phục con thú hoang đó bằng cách buộc chặt nó vào một cái cọc thật chắc chắn, bỏ đói nó, chế ngự nó, huấn luyện nó với mục đích LÀM CHỦ TÂM.
Vậy tâm là gì? Theo triết học thì tất cả các sự vật hiện tượng (Phật học gọi là các pháp) được chia làm hai phạm trù Tinh thần và Vật chất mà Phật học gọi là Danh và Sắc. Phạm trù Vật chất (Sắc pháp) gồm rất nhiều thứ như nhà cửa, xe cộ, người, thú vật, mặt trời mặt trăng vv… độc lập với nhau và đều được gọi bằng một tên chung là Vật chất. Tương tự, phạm trù Tinh thần (Danh pháp) cũng bao gồm rất nhiều thứ khác nhau, độc lập với nhau và đều được gọi bằng một cái tên chung là Tâm.
Tâm gồm RẤT NHIỀU THỨ TÂM, NHIỀU LOẠI TÂM KHÁC NHAU, ĐỘC LẬP VỚI NHAU, được Kinh điển chia thành 4 loại khác nhau, hay 4 nhóm khác nhau mà thuật ngữ Phật học tiếng Tàu gọi là 4 uẩn gồm: Thọ Tưởng Hành Thức (Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn). Cụ thể là:
1 – Nhóm Thọ hay Thọ uẩn: là nhóm ĐỐI TƯỢNG THỰC TẠI gồm những đối tượng được thấy, được nghe, được cảm nhận của thực tại, tức 6 loại Cảm thọ (gọi tắt là Thọ) mà tiếng Việt gọi là 6 loại Cảm giác. Đó là Thọ do nhãn xúc sinh, Thọ do nhĩ xúc sinh, Thọ do tỷ xúc sinh, Thọ do thiệt xúc sinh, Thọ do thân xúc sinh, Thọ do ý xúc sinh. Nghĩa là Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần phát sinh Sáu Thọ, đó là các Cảm giác hình ảnh, Cảm giác âm thanh, Cảm giác mùi, Cảm giác vị, Cảm giác xúc chạm, Cảm giác pháp trần. Nhóm Thọ hay Thọ uẩn do Căn Trần tiếp xúc mà phát sinh nên Thọ là vô thường (không sẵn có, không luôn luôn có ở đâu cả), Thọ là vô chủ vô sở hữu (vô ngã, không làm chủ, không sở hữu, không điều khiển được). Đây là một loại tâm mà hàng ngày con người thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm nhận nó nhưng lại HIỂU SAI LÀ THẾ GIỚI VẬT CHẤT sắc thanh hương vị xúc pháp trần.
2- Nhóm Tưởng hay Tưởng uẩn: là nhóm TÂM BIẾT, gồm 6 loại tâm biết trực tiếp giác quan gọi tắt là tâm biết trực giác, cụ thể gồm Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Tưởng thức, có phận sự ghi nhận hay nhận biết các đối tượng thực tại. Đó là Nhãn thức thấy Cảm giác hình ảnh; Nhĩ thức nghe Cảm giác âm thanh; Tỷ thức cảm nhận Cảm giác mùi; Thiệt thức cảm nhận Cảm giác vị; Thân thức cảm nhận Cảm giác xúc chạm; Tưởng thức ghi nhận Cảm giác pháp trần. Sáu Tưởng do Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần mà phát sinh, nên Tưởng là vô thường, Tưởng là vô chủ, vô sở hữu (vô ngã). Mỗi một Tưởng chỉ ghi nhận một đối tượng thực tại duy nhất. Tâm biết Tưởng này không có khái niệm, không có ngôn từ, không có phân biệt nên nó là “vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt”.
3- Nhóm Hành hay Hành uẩn: là nhóm TÂM HÀNH gồm Niệm (trí nhớ), Tư duy, Thái độ (tham sân si), Định, Dục, Tinh tấn (tích cực), Tác ý, Lời nói, Hành động, Khổ Vui. Các tâm hành này phát sinh do Ý căn tiếp xúc với Pháp trần (lượng thông tin pháp trần trong bộ nhớ) thực chất là tương tác thông tin, nhưng khác với tương tác giữa Ý căn và Pháp trần phát sinh Cảm giác pháp trần và Tưởng thức. Các tương tác này đều xảy ra trong tế bào thần kinh não bộ. Các tâm hành không sẵn có, không luôn luôn có ở một nơi chốn nào cả mà nó chỉ phát sinh khi có Xúc (tương tác giữa Ý căn và Pháp trần) nên nó vô thường, vô chủ vô sở hữu (vô ngã).
4 – Nhóm Thức hay Thức uẩn: gồm TÂM BIẾT Ý THỨC và TƯ TƯỞNG. Tâm biết Ý thức có phận sự biết Tư tưởng. Quá trình diễn ra như sau: tâm hành tư duy thuộc Hành uẩn có phận sự phân tích, so sánh, tổng hợp, phán đoán, kết luận (có trường hợp có thêm trừu tượng, khái quát hoá) là NHÂN làm phát sinh đồng thời: [Tâm biết Ý thức và Tư tưởng]. Tâm biết Ý thức có phận sự biết Tư tưởng vừa phát sinh và Tư tưởng đó phản ánh về đối tượng được Tưởng uẩn ghi nhận. Tâm biết Ý thức biết đối tượng được thấy, được nghe, được cảm nhận là cái gì, tính chất ra sao, nhưng là BIẾT do TƯ duy, suy luận trên những thông tin do TƯỞNG uẩn cung cấp nên Ý THỨC biết TƯ TƯỞNG. Thức uẩn cũng do Ý căn tiếp xúc Pháp trần mà phát sinh, tương tự như hành uẩn nên nó vô thường, vô chủ vô sở hữu (vô ngã).
Vậy tâm gồm nhiều thứ khác nhau, được chia làm bốn nhóm Thọ Tưởng Hành Thức và trong mỗi một nhóm cũng có vô số các tâm khác nhau. Ví như Thọ do Nhãn xúc sinh cũng có vô số Thọ (vô số Cảm giác hình ảnh) khác nhau được Nhãn thức thấy hàng ngày. Mọi thứ tâm ấy đều do Sáu Căn tiếp xúc (hay tương tác) với Sáu Trần mà phát sinh nên nó sinh diệt, vô thường, không thường hằng, không thường trú đâu cả. Mọi thứ tâm ấy KHÔNG ĐỒNG THỜI TỒN TẠI mà tại mỗi một thời điểm chỉ tồn tại, chỉ sinh lên và diệt đi rất nhanh chóng một thứ tâm duy nhất trừ [Thọ và Tưởng] cùng [Ý thức và Tư tưởng] là đồng sinh đồng diệt, đồng thời tồn tại. Các thứ tâm ấy cũng đều vô chủ vô sở hữu, nghĩa là chúng đều độc lập, không phụ thuộc vào nhau, không có tâm nào là chủ nhân, chủ sở hữu, điều khiển tâm nào cả. Vì vậy, tâm không phải như một cỗ máy đang vận hành, không phải như một bộ máy công quyền của một đất nước với tâm vương và các tâm sở. Đối với Phàm phu các thứ tâm ấy được diễn tả trong một lộ trình sinh diệt theo một sơ đồ:
XÚC – [Thọ – Tưởng] – Tà niệm – Tà tư duy – [Ý thức – Tà kiến] – Tham sân si – Tà định – Dục – Tà tinh tấn – Phi như lý tác ý – Tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng – Khổ vui.
Trong đó XÚC là Căn và Trần tiếp xúc chỉ cho nhóm Sắc hay Sắc uẩn. Và mô tả đơn giản hơn theo năm uẩn thì sơ đồ đó là:
Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức – Hành
Đây là một lộ trình sinh diệt của tâm gồm: Căn Trần tiếp xúc rồi sinh diệt (Sắc diệt) làm cho Thọ – Tưởng sinh lên rồi diệt đi; tiếp đến Hành sinh lên rồi diệt đi; tiếp đến Thức sinh lên rồi diệt đi; tiếp đến các Hành còn lại sinh lên rồi diệt đi. Lộ trình kết thúc tại đó nhưng lại tiếp tục một lộ trình Sắc – Thọ – Tưởng – Hành Thức – Hành khác lại sinh lên rồi diệt đi, rồi một lộ trình tương tự như vậylại tiếp diễn nối tiếp tương tục. Sự thật tất cả các pháp gồm Tinh thần và Vật chất (Danh và Sắc) không phải là năm yếu tố Sắc Thọ Tưởng Hành Thức đồng thời tồn tại, liên kết, ràng buộc với nhau CẤU THÀNH MỘT CHÚNG SANH, mà là các lộ trình Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức sinh lên rồi diệt đi liên tiếp, tương tục. Như vậy, phải hiểu TỪ CHÚNG SANH là pháp chế định, là quy ước, dùng làm phương tiện truyền thông, ám chỉ cho các lộ trình Sắc – Thọ – Tưởng – Hành – Thức đang sinh diệt tương tục nhau, mà không hề có Sắc Thọ Tưởng Hành Thức nào thường hằng, cố định, cũng không hề có một Cái Tôi, Cái Ta, Bản ngã, Chúng sanh nào như một thực thể cố định, không sinh không diệt là chủ nhân, chủ sở hữu, điều khiển Sắc Thọ Tưởng Hành Thức.

SỰ HIỂU LẦM VỀ TÂM
Hiểu biết về Tâm của nhân loại, bao gồm quan niệm của người bình dân, của Triết học, của Tâm lý học cổ điển hay hiện đại, kể cả hiểu biết của số đông tín đồ Phật Giáo, đều hiểu Tâm theo kiểu CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI, và cái TÂM CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI ấy có nhiều tính năng, có nhiều tác dụng khác nhau. Tâm với CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI ấy là Chủ nhân, Chủ sở hữu của các tính năng, của các tác dụng ấy. Và các tính năng, các tác dụng ấy được gọi là các Tâm Sở. Tâm như vậy, có thể di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác, thấy biết đối tượng này đến đối tượng khác, ràng buộc vào đối tượng này hay đối tượng khác. Tâm được quan niệm như vậy, với Linh Hồn chỉ khác nhau về tên gọi, còn nội dung thì y chang nhau, được quan niệm cư trú trong thân thể, lấy sáu Căn làm sáu cửa để biết về Thế Giới và khi chết, thân thể tan rã, nó lại di chuyển (đầu thai) sang một thân thể khác hoặc có thể tồn tại không cần thân xác trong một Thế giới Tâm linh nào đó. Tâm với CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI ấy vốn thanh tịnh, vốn đầy đủ trí tuệ, vốn sáng chói, nhưng đã bị ô nhiễm bởi các yếu tố ngoại lai. Vì thế mới chủ trương buộc tâm vào một đối tượng, không cho nó phóng dật, làm chủ tâm, chế ngự tâm, thanh lọc tâm cho hết mọi ô nhiễm. Lại còn chia tâm ra làm hai phần: phần Tục Đế là
Tâm sinh diệt vô thường, phát sinh từ tâm Chân Đế, là tâm Bản Thể không sinh không diệt. Dù có chia Tâm ra phần Bản Thể, Tánh (Chân Đế) và phần Hiện Tượng, Tướng (Tục Đế) thì vẫn quan niệm Tâm theo CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI. Thấy và Biết về Tâm như vậy của Nhân loại, phát sinh từ quan điểm TĨNH TẠI, một loại tư tưởng TÀ KIẾN, mà thuật ngữ Phật học gọi là THƯỜNG KIẾN. Nghĩa là Tâm là một khối, sẵn có, luôn luôn có, thường hằng và thường trú trong thân thể này. Thấy Biết THƯỜNG KIẾN đó, sẽ ngăn che làm cho nhân loại không thể nào Thấy Biết được tự tánh Duyên khởi của Tâm: Do cái gì có, mà Tâm có. Do cái gì sinh, mà Tâm sinh. Do cái gì không có mà Tâm không có. Do cái gì diệt, mà Tâm diệt. Nghĩa là không thể Thấy Biết Tâm đúng theo Trung Đạo Duyên Khởi, điều mà Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên thuyết.
Tâm phải được hiểu đúng như bản chất của nó là một Phạm Trù (theo thuật ngữ Triết học), trong hai Phạm Trù Vật Chất và Phạm Trù Tinh Thần mà cả hai Phạm Trù đều bao gồm rất nhiều sự vật và hiện tượng Vật chất và Tinh thần (hay Tâm và Vật). Theo thuật ngữ Phật học, các sự vật, hiện tượng thuộc Phạm trù Vật chất thì gọi là các SẮC PHÁP và các sự vật hiện tượng thuộc Phạm trù Tinh thần thì gọi là DANH PHÁP hay TÂM. Các Danh Pháp (Tâm) và Sắc Pháp (Vật), không ở trong trạng thái TĨNH TẠI mà nó đang SINH DIỆT theo các lộ trình, tuân theo tính chất Duyên Khởi: HAI NHÂN tiếp xúc (hay tương tác nhau) rồi cùng diệt và phát sinh CÁC QUẢ.
1- PHẠM TRÙ VẬT CHẤT: Bao gồm các Sắc pháp, đang sinh lên và diệt đi theo các lộ trình Nhân Quả nối tiếp nhau. Ví như bao thóc giống tiếp xúc thửa ruộng đã làm đất kỹ, phát sinh ruộng mạ. Tiếp đến ruộng mạ tiếp xúc môi trường (ánh sáng, nhiệt độ, phân, nước…) phát sinh ruộng lúa chín vàng. Ruộng lúa chín vàng tiếp xúc máy gặt, phát sinh bao thóc. Bao thóc tiếp xúc máy xay, phát sinh bao gạo. Bao gạo tiếp xúc với nồi (nước, lửa…) phát sinh nồi cơm… và quá trình lại tiếp diễn theo nguyên lý, hai nhân tiếp xúc nhau cùng diệt và phát sinh các quả như thế mãi. Ở đây, có LỘ TRÌNH SINH DIỆT NỐI TIẾP NHAU xảy ra: bao thóc diệt, ruộng mạ sinh, tiếp đến ruộng mạ diệt, ruộng lúa chín vàng sinh, tiếp đến ruộng lúa chín vàng diệt, bao thóc sinh, bao thóc diệt, bao gạo sinh… Nếu bao thóc tiếp xúc với đàn vịt, thì một lộ trình nhân quả khác, sinh diệt liên tiếp nhau, sẽ phát sinh. Nếu bao thóc tiếp xúc đống lửa, đường nhựa, cối xay… thì sẽ có các lộ trình nhân quả sinh diệt liên tiếp khác nhau, sẽ xảy ra. Như vậy PHẠM TRÙ VẬT CHẤT bao gồm rất nhiều SẮC PHÁP đang sinh và diệt theo các lộ trình khác nhau, các SẮC PHÁP ấy tương tác với nhau rồi cùng diệt đi, nhưng quan hệ giữa chúng là quan hệ Nhân Quả, chúng độc lập với nhau, không có nhân nào là chính, không có nhân nào là phụ, không có Sắc pháp nào là Chủ nhân, Chủ sở hữu của Sắc pháp nào. Tất cả các Sắc Pháp đều Vô Thường, Vô Ngã (Vô chủ, Vô sở hữu). Vì vậy KHÔNG HỀ CÓ MỘT THẾ GIỚI VẬT CHẤT THEO KIỂU CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI, TĨNH TẠI BAO GỒM CÁC SẮC PHÁP ĐỒNG THỜI HIỆN HỮU VÀ LIÊN KẾT, PHỤ THUỘC CHẰNG CHỊT VỚI NHAU.
2- PHẠM TRÙ TÂM: Tâm bao gồm RẤT NHIỀU DANH PHÁP (rất nhiều thứ tâm) không sẵn có, không luôn luôn có, không thường hằng, không thường trú đâu cả mà nó chỉ phát sinh, chỉ xuất hiện khi Sáu Căn và Sáu Trần tiếp xúc (tương tác) với nhau. CÁC THỨ TÂM ẤY SINH LÊN RỒI DIỆT ĐI LIÊN TIẾP NHAU THEO LỘ TRÌNH:
XÚC – Cảm giác (Thọ) – Tưởng – Niệm – Tư Duy – Ý Thức – Thái Độ (Tham Sân Si) – Định (chú tâm) – Dục (muốn) – Tinh Tấn (tích cực) – Tác Ý – Hành Vi (Lời nói, Hành động) – Khổ hoặc Vui.
Trong lộ trình Nhân Quả liên tiếp này, XÚC là Căn Trần tiếp xúc nhau, là Nhân phát sinh Thọ – Tưởng. Thọ – Tưởng là Nhân phát sinh Niệm. Niệm là Nhân phát sinh Tư Duy. Tư Duy là Nhân phát sinh Ý Thức. Ý Thức là Nhân phát sinh Tham Sân Si. Tham Sân Si là Nhân phát sinh Định. Định là Nhân phát sinh Dục. Dục là Nhân phát sinh Tinh Tấn. Tinh Tấn là Nhân phát sinh Tác Ý. Tác Ý là Nhân phát sinh Hành vi (Lời nói, Hành động). Lời nói, Hành động là Nhân phát sinh Khổ hay Vui.
Đây cũng là LỘ TRÌNH CÁC THỨ TÂM SINH DIỆT LIÊN TIẾP NHAU:
XÚC diệt, Thọ Tưởng sinh. Tiếp đến Thọ – Tưởng diệt, Niệm sinh. Niệm diệt, Tư Duy sinh. Tư Duy diệt, Ý Thức sinh. Ý thức diệt, Thái Độ (Tham Sân Si) sinh. Tham Sân Si diệt, Định sinh. Định diệt, Dục sinh. Dục diệt, Tinh Tấn sinh. Tinh Tấn diệt, Lời nói, Hành động sinh. Lời nói, Hành động diệt, Khổ hay Vui sinh. Lộ trình sẽ kết thúc tại đó và một lộ trình khác do Căn Trần tiếp xúc khác lại khởi lên tương tự và cũng diệt đi tương tự. Quá trình cứ tiếp diễn liên tiếp nhau cho đến khi không còn Duyên XÚC. Các thứ tâm ấy sinh lên, diệt đi TỪNG CÁI MỘT LIÊN TIẾP NHAU, chứ không ĐỒNG SINH ĐỒNG DIỆT trên một đối tượng, ngoại trừ trường hợp [Thọ – Tưởng] và [Ý thức – Tư tưởng] là hai pháp đồng sinh đồng diệt. Mỗi một thời điểm chỉ tồn tại duy nhất MỘT THỨ TÂM (ngoại trừ Thọ – Tưởng) chứ không phải một TÂM CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI với nhiều TÂM SỞ đồng sanh đồng diệt trên cùng một đối tượng. Tất cả các thứ tâm ấy đều do duyên XÚC mà phát sinh, vì thế nó Vô thường, Vô chủ, Vô sở hữu (Vô ngã), không có một thứ tâm nào sẵn có ở đâu cả.
a – Ngoại Xúc: sự tiếp xúc giữa Sáu Căn và Sáu Trần phát sinh THỌ – TƯỞNG bao gồm Sáu Cảm Giác (Cảm Thọ) và Sáu Cái Biết Trực Tiếp (gọi chung là Tưởng), có phận sự Nhận Biết Sáu Cảm Giác, bao gồm: Nhãn thức thấy Cảm giác hình ảnh, Nhĩ thức nghe Cảm giác âm thanh, Tỉ thức nhận biết Cảm giác mùi, Thiệt thức nhận biết Cảm giác vị, Thân thức nhận biết Cảm giác xúc chạm, Tưởng thức ghi nhận Cảm giác pháp trần. Cặp đôi THỌ – TƯỞNG phát sinh do XÚC tại các giác quan nên gọi là Ngoại Xúc, để phân biệt với Nội Xúc, xảy ra bên trong các tế bào thần kinh não bộ và các tế bào chức năng trong cơ thể.
Hiểu biết của nhân loại đã MẶC ĐỊNH, không thể thấy được Tâm, không thể nghe được Tâm, không thể ngửi được Tâm, không thể nếm được Tâm … vì Tâm là một cái gì khó tưởng tượng ra nổi. Nhưng không phải như vậy, đó là hiểu lầm về Tâm, mà ở đây, trong cặp THỌ – TƯỞNG thì TƯỞNG là tâm biết bao gồm Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức, Tưởng thức. Và các Tâm Biết ấy không hình không tướng, không thể thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm được chúng. Nhưng những đối tượng của các tâm biết ấy là những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm nhận đều là các Cảm Giác hay THỌ, đều là Tâm và các Tâm ấy đều thấy được, nghe được, ngửi được, nếm được… Vì vậy, các đối tượng được thấy (hình ảnh), được nghe (âm thanh), được cảm nhận (mùi, vị, xúc chạm, pháp trần) cũng đều là Tâm cả. Thực chất là TÂM BIẾT TÂM CHỨ KHÔNG PHẢI TÂM BIẾT CẢNH như hiểu lầm của nhân loại.
b – Nội Xúc: là sự tiếp xúc giữa HAI LƯỢNG THÔNG TIN, xảy ra trong “kho chứa thông tin” được lưu giữ trong ADN tế bào thần kinh não bộ và tế bào chức năng làm phát sinh các thứ tâm còn lại như Niệm, Tư Duy, Ý Thức, Thái Độ, Định, Dục, Tinh Tấn, Tác Ý, Hành Vi, Khổ, Vui… KHO CHỨA THÔNG TIN của mỗi người chứa các thông tin đã được mã hoá về các tri thức hiểu biết, kinh nghiệm, thói quen, tính cách… đã tích luỹ từ quá khứ, các thân hành, khẩu hành, ý hành đều được lưu giữ trong kho chứa này (gọi là Nghiệp). Những hiểu biết Vô Minh, Chấp Thủ (của Ta, là Ta) và cả những hiểu biết Minh do Văn Tuệ và Tư Tuệ được học khi nghe giảng về Phật pháp cũng được lưu giữ ở đây (Các thông tin về tâm này cũng được lưu giữ trong ADN nhưng Khoa học mới chỉ biết đến thông tin di truyền lưu giữ trong ADN). Khi các thông tin về đối tượng (Thọ) do Tưởng nhận biết từ các giác quan bên ngoài, được dẫn truyền về Kho chứa thông tin và tại đây sẽ xảy ra sự tiếp xúc (tương tác) giữa hai lượng thông tin: Thông tin về Thọ được dẫn vào và Thông tin trong kho chứa. Do NỘI XÚC này mà sẽ phát sinh Niệm. Niệm là hành vi tìm kiếm, dò tìm, kích hoạt Thông tin tương hợp với Thông tin dẫn vào. Tiếp đến Thông tin về Thọ được dẫn vào sẽ tiếp xúc, tương tác (XÚC) với Thông tin được Niệm dò tìm, kích hoạt. Do NỘI XÚC đó mà phát sinh Tư Duy… Các thứ tâm khác cũng là do duyên NỘI XÚC giữa hai lượng thông tin mà phát sinh tương tự. Đối với Hành Vi (lời nói, hành động) đều là các Cảm giác do Thông tin phát sinh từ hành vi Tác Ý ở tế bào thần kinh não bộ, được dẫn truyền đến các tế bào chức năng tương ứng. Tại ADN của các tế bào tương ứng này sẽ xảy ra tương tác (XÚC) giữa Thông tin tác ý với Thông tin đã được lập trình trong quá khứ do luyện tập (tập nói, tập đi…). Do NỘI XÚC này mà phát sinh các Cảm giác chuyển động tay, chân, cổ, họng, lưỡi… làm phát ra các lời nói, hành động. Thông tin Khổ, Vui cũng phát sinh nơi tế bào thần kinh não bộ, được truyền dẫn đến các tế bào nội tạng như tim, phổi, gan, thận, ruột… và tại đấy xảy ra tương tác giữa lượng thông tin Khổ Vui với Thông tin trong tế bào. Do NỘI XÚC này mà phát sinh Cảm giác lâng lâng Hạnh phúc hay Cảm giác Khổ đau…
c – Hai lộ trình tâm: BÁT TÀ ĐẠO và BÁT CHÁNH ĐẠO.
XÚC – Thọ – Tưởng xảy ra nơi các giác quan, chưa liên quan đến thông tin trong kho chứa, vì vậy không bị chi phối bởi tri thức, kinh nghiệm quá khứ, không mang tính chất Vô Minh hay là Minh, người và động vật, Phàm và Thánh đều chung quy luật, không khác nhau. Khi lượng thông tin về đối tượng Thọ, được dẫn truyền vào kho chứa thông tin, sẽ xảy ra tiếp xúc, tương tác với một trong hai nhóm thông tin MINH hoặc VÔ MINH và lộ trình tâm có thể xảy ra hai trường hợp:
– NỘI XÚC xảy ra giữa thông tin đối tượng Thọ được dẫn vào, với nhómthông tin VÔ MINH, phát sinh Tà Niệm và do Tà Niệm mà toàn bộ lộ trình tâm BÁT TÀ ĐẠO sẽ khởi lên theo tính chất Duyên khởi. Trên lộ trình tâm BÁT TÀ ĐẠO, do Nhân như vậy, Duyên như vậy mà sẽ có Vô Minh (Tà Tri Kiến), có Tham Sân Si, có Sầu Bi Khổ Ưu Não.
XÚC – Thọ – Tưởng – TÀ NIỆM – Tà Tư Duy – Tà Tri Kiến – Tham Sân Si – Tà Định – Dục – Tà Tinh Tấn – Phi như lý tác ý – Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng – Sầu Bi Khổ Ưu Não.
– NỘI XÚC xảy ra giữa thông tin đối tượng Thọ được dẫn vào, với nhómthông tin MINH (do Văn tuệ và Tư tuệ lưu vào), phát sinh Chánh Niệm và do Chánh Niệm mà toàn bộ lộ trình tâm BÁT CHÁNH ĐẠO sẽ khởi lên theo tính chất Duyên khởi. Trên lộ trình BÁT CHÁNH ĐẠO, do Nhân như vậy, Duyên như vậy mà sẽ có TỈNH GIÁC và MINH (Chánh Tri Kiến) nên không có Vô Minh, không có Tham Sân Si, không có Sầu Bi Khổ Ưu Não, nghĩa là Bát Chánh Đạo không có Khổ hay gọi là Khổ Diệt, Niết Bàn.
XÚC – Thọ – Tưởng – CHÁNH NIỆM – Chánh Tinh Tấn – Chánh Định – (Tỉnh giác) – Chánh Tư Duy – Chánh Tri Kiến – Như lý tác ý – Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.
KẾT LUẬN: Như vậy, Tâm là một PHẠM TRÙ bao gồm rất nhiều thứ tâm (Danh pháp) phát sinh do duyên XÚC giữa Sáu Căn và Sáu Trần, và các thứ tâm ấy sinh lên rồi diệt đi theo hai lộ trình BÁT TÀ ĐẠO hoặc BÁT CHÁNH ĐẠO. Vì vậy, Tâm không phải là một CẤU TRÚC NGUYÊN MỘT KHỐI với các tính năng, tác dụng (Tâm Sở), đồng sanh, đồng diệt trên cùng một đối tượng.
