Luật Nhân Quả là gì? LÝ DUYÊN KHỞI giáo lý quan trọng nhất trong Phật Giáo

Lý Duyên Khởi hay còn gọi là Định luật Nhân Quả là một nội dung quan trọng bậc nhất trong giáo pháp mà Đức Phật thuyết giảng. Tuy nhiên, có nhiều hiểu lầm xung quanh khái niệm này. Trong bài viết này, chúng ta sẽ điểm qua những hiểu lầm phổ biến về Lý Duyên Khởi và cách hiểu đúng khái niệm này.

 

1. Lý Duyên Khởi hay Định Luật Nhân Quả là gì?

Lý Duyên khởi hay Định Luật Nhân Quả là giáo lý quan trọng bậc nhất trong Phật Giáo, thường được gọi với tên là Luật Nhân Quả, tức nói tới sự tương tác giữa 2 Nhân (Duyên với nhau) rồi cùng diệt mới Phát sinh (Khởi) ra một hay nhiều Quả.

Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Lý Duyên Khởi như Nhân biến đổi thành quả, hay Nhân chính biến đổi thành quả có các duyên khác trợ giúp, hay nhân trong quả, quả trong nhân, nhân quả đồng thời tồn tại, tương tức tương nhập với nhau.

Một số định nghĩa hiện nay.

  • Định nghĩa 1 theo Wiki: Quả báo là một trong các nguyên lý cơ bản của giáo lý Phật giáo là: Có luân hồi tất có nhân quả, hai việc ấy vốn liên tục nhau. Phật dạy: “Cha làm điều chẳng lành, con không chịu thế được, con làm điều chẳng lành, cha không chịu thế được. Làm lành tự được phước, làm dữ tự mang họa” (Phụ tác bất thiện, tử bất đại thọ, tử tác bất thiện, phụ bất đại thọ. Thiện tự hoạch phước, ác tự thọ ương). Lại có câu: “Điều lành dữ cuối cùng đều có trả, khác nhau chỉ đến chóng hay chầy, nhanh hay chậm mà thôi”

  • Định nghĩa 2: Luật nhân quả là một quy luật không thể bị thay đổi. Mọi sự việc xảy ra trong cuộc sống có quan hệ với nhau qua các tiền kiếp và liên quan đến sự tồn tại của 1 sinh vật, không thể bị thay đổi hoặc khó bị thay đổi, là 1 quy luật sẵn có của vũ trụ. – theo phatgiao.org.vn

  • Định nghĩa 3: Luật nhân quả là một phép tắc, được quy định theo sự hoạt động tự nhiên của vũ trụ, để quân bình trật tự an toàn của các hành tinh trong không gian. Nếu không có luật nhân quả quy định trật tự thì các hành tinh trong không gian này sẽ bị đảo lộn, và như vậy muôn vật sống trên các hành tinh sẽ bị tiêu diệt.

Đặc biệt hiện nay nhiều người dùng luật nhân quả để giáo dục hay cảnh báo mọi người là gieo nhân nào sẽ gặt quả đó, hay nhân quả báo ứng, làm điều ác sẽ nhận quả báo ứng, tuy nhiên sự thực có như vậy hay không?

Bằng cách QUAN SÁT thực tế những gì xẩy ra xung quanh để khám phá SỰ THẬT về Luật nhân Quả, Bài viết này sẽ giới thiệu kiến thức và những ví dụ minh họa đơn giản giúp bạn thấy được Sự thật về định luật Lý Duyên khởi do Đức Phật đã chứng ngộ và tuyên thuyết.

 

Lý Duyên Khởi được trình bày trong Kinh Nikaya

Có một đoạn kinh được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong các bộ kinh Nikaya:

Ai với Chánh trí tuệ thấy như chơn các pháp tập khởi thì không cho rằng các pháp là không có. Ai với Chánh trí tuệ thấy như chơn các pháp đoạn diệt thì không cho rằng các pháp luôn luôn có. Chấp các pháp là luôn luôn có (Chấp Có), chấp các pháp là không có (Chấp Không) là hai cực đoan của nhân loại. Ly hai cực đoan đó, Như Lai thuyết pháp ở Trung đạo, nghĩa là: “Cái này có do cái kia có, cái này sinh do cái kia sinh. Cái này không có do cái kia không có, cái này diệt do cái kia diệt”.  

Đây là đoạn kinh quan trọng bậc nhất trong Giáo Pháp mà Đức Thế Tôn đã khéo léo thuyết giảng và nội dung là nói về Định luật Nhân Quả hay còn gọi là Lý Duyên Khởi.

Có thể trình bày lại về Lý Duyên Khởi một cách ngắn gọn và dễ hiểu như sau:

HAI NHÂN TƯƠNG TÁC (Tiếp xúc/ Duyên) VỚI NHAU RỒI CÙNG DIỆT, PHÁT SINH (Khởi) MỘT HAY NHIỀU QUẢ.

Quán sát các sự vật và hiện tượng trong thực tại là quán sát lộ trình Nhân – Quả (nguyên nhân – kết quả). Có những pháp thuộc về nguyên nhân, có những pháp thuộc về kết quả. Ví dụ trống và dùi tiếp xúc với nhau là nguyên nhân và tiếng trống là kết quả. Bánh xe của bật lửa và viên đá lửa tiếp xúc với nhau là nhân và ánh lửa phát sinh là quả. Oxy và hydro tiếp xúc với nhau là nhân và nước là kết quả; v.v…

Các pháp do duyên xúc mà phát sinh (chứ không phải do Nhân biến đổi mà thành) nên gọi là pháp duyên khởi.

Lộ trình Nhân – Quả là lộ trình diễn biến theo thời gian nên nhân và quả không thể tồn tại đồng thời, nghĩa là nhân trước, quả sau và lộ trình xảy ra theo thời gian là nhân diệt – quả sinh.

2. Hiểu đúng và Hiểu sai về Lý Duyên Khởi (hay Định luật Nhân Quả)

2.1. Hiểu sai về Lý Duyên Khởi

Đó là cách hiểu MỘT NHÂN sinh QUẢ hay MỘT NHÂN biến đổi thành QUẢ; Hoặc trên quan điểm MỘT NHÂN sinh QUẢ đó, có bổ sung thêm: MỘT NHÂN biến đổi thành QUẢ, có các nhân phụ hay duyên trợ giúp. Ví như hạt thóc sinh ra cây mạ, cây mạ biến đổi thành cây lúa, cây lúa phát sinh ra thóc, thóc biến đổi thành gạo, gạo biến đổi thành cơm, quả chuối xanh biến đổi thành quả chuối chín, đứa trẻ biến đổi thành người lớn, tiếng trống phát ra do cái trống, nước biến thành hơi nước …

Với thấy biết một nhân biến đổi thành quả thì nhân trong quả, quả trong nhân, tương tức, tương nhập, các pháp tương quan với nhau, nối kết với nhau thành một toàn thể, và cái Toàn Thể như vậy sẽ không sinh không diệt. Trong một cái Toàn Thể như vậy, các pháp sẽ phụ thuộc lẫn nhau, nương nhau mà tồn tại, giữa các pháp sẽ tồn tại mối quan hệ sở hữu, quan hệ chủ nhân, pháp này là của pháp kia.

Ví như tiếng trống là “của” cái trống, con là “của” mẹ, nhà “của” tôi, xe “của” tôi…

Đối với thấy biết một nhân sinh quả, nhân biến đổi thành quả thì mắt thấy quả táo màu hồng, tai nghe âm thanh của quả táo rơi, mũi ngửi mùi thơm của quả táo, lưỡi nếm vị ngọt của quả táo, tay biết cứng mềm của quả táo. Và như vậy, quả táo, màu hồng, âm thanh, mùi thơm, vị ngọt, cứng mềm… nương nhau mà tồn tại. Các pháp như màu hồng, âm thanh, mùi thơm, vị ngon, cứng mềm… sẵn có, thường xuyên có, thường hằng, thường trú nơi quả táo, của quả táo.

Tương tự như vậy, ngọt ở trong đường và của đường, mặn ở trong muối và của muối, ngon dở ở trong thức ăn và của thức ăn, nóng ở trong lửa và của lửa, lạnh ở trong nước đá và của nước đá, cứng mềm, nặng nhẹ, thô mịn ở trong địa đại và của địa đại … Hạnh phúc có trong những hoàn cảnh tốt đẹp, của hoàn cảnh tốt đẹp, Khổ đau ở trong những hoàn cảnh tồi tệ, của hoàn cảnh tồi tệ, Khổ Tập Diệt Đạo ở trong thế giới ngoại cảnh, của thế giới ngoại cảnh…

Như vậy các pháp này Thường hằng và Hữu chủ. Thấy biết Nhân Quả theo kiểu như vậy, là Thường kiến và Ngã kiến, không có thể thấy biết NHƯ THẬT các pháp Vô thường, Vô chủ, Vô sở hữu (Vô ngã).

 

2.2. Hiểu đúng về Lý Duyên Khởi

Đó là quan sát sự thật để thấy biết tất cả các Sắc pháp và Danh pháp đều phát sinh theo định luật nhân quả theo cách thức: “Hai Nhân tiếp xúc với nhau rồi cùng diệt mà phát sinh ra một hay nhiều quả“.

Đối với các Sắc pháp, có thể quan sát hình ảnh, mà từ đó có thể hình dung ra vận hành Nhân Quả của các Sắc pháp. Ví như có gói thuốc nhuộm đỏ và một chậu nước trong là hai nhân, nhưng hai nhân này chưa tiếp xúc nhau thì chưa có gì xẩy ra. Khi hai nhân này tiếp xúc nhau, thì cả hai nhân là gói thuốc nhuộm đỏ và chậu nước trong đều cùng diệt đi và phát sinh quả là chậu thuốc nhuộm đỏ. Chậu thuốc nhuộm đỏ với cái áo trắng tiếp xúc nhau rồi cả hai cùng diệt, phát sinh cái áo đỏ và một chậu thuốc nhuộm đỏ khác có nồng độ và thể tích khác chậu thuốc nhuộm đỏ ban đầu.

Viên đá lửa và bánh xe bật lửa tiếp xúc nhau rồi cùng diệt đi, phát sinh ánh lửa và viên đá mới, bánh xe mới. Trống và dùi là hai nhân và khi hai nhân đó tiếp xúc với nhau cùng diệt (trống cũ, dùi cũ diệt) phát ra tiếng trống, trống mới và dùi mới. Oxy và Hydro là hai nhân, tiếp xúc nhau rồi cùng diệt, phát sinh ra nước …

Đối với các Danh pháp phát sinh do hai nhân là Căn và Trần tiếp xúc nhau: Ví như tay (Thân căn) là một nhân, cục nước đá (Xúc trần) là nhân thứ hai, khi chưa tiếp xúc nhau, thì chưa có gì xẩy ra. Khi tay tiếp xúc cục nước đá, phát sinh Cảm giác lạnh, đồng thời phát sinh Thân thức nhận biết cảm giác lạnh đó. Có viên đường là Vị trần và lưỡi là Thiệt Căn, hai nhân này chưa tiếp xúc thì chưa có gì xẩy ra. Khi lưỡi tiếp xúc viên đường thì lập tức phát sinh Cảm giác vị ngọt và phát sinh Thiệt thức nhận biết Cảm giác vị ngọt đó.

Các Danh pháp như Niệm, Tư duy, Ý thức, Tham Sân Si, Định, Dục… do hai nhân là Ý tiếp xúc với Pháp trần mà phát sinh và đó là Nội xúc, xẩy ra trong tế bào thần kinh não bộ, thực chất là sự tương tác của hai nhân là hai lượng thông tin.

Hai nhân bình đẳng tương tác hay tiếp xúc nhau, không có nhân nào là chính, nhân nào là phụ. Vì thế không thể nào có một nhân mà sinh được quả hay một nhân biến đổi thành quả, không thể có quả theo hiểu biết một chiều “nhân nào quả nấy”.

Không thể là sự thật khi nói: “thầy giỏi thì trò giỏi”, bởi khi thầy giỏi tương tác với một học sinh giỏi sẽ phát sinh một kết quả khác với kết quả khi cũng thầy giỏi đó tương tác với một học sinh dốt hoặc lười. Một bao thóc giống một mình nó không tiếp xúc với nhân thứ hai thì không phát sinh cái gì, nhưng nếu bao thóc đó tiếp xúc với thửa ruộng đã làm đất kỹ, sẽ phát sinh ruộng mạ, nếu tiếp xúc với đàn vịt sẽ phát sinh quả khác, nếu tiếp xúc với đống lửa sẽ phát sinh quả khác, nếu tiếp xúc với đường nhựa nơi xe cộ đang chạy sẽ phát sinh quả khác … Thấy biết Nhân Quả đa chiều như vậy sẽ chấm dứt được tà kiến “nhân nào quả nấy”.

Duyên được hiểu là sự tương tác hay sự tiếp xúc của hai nhân. Duyên Xúc cũng đã thể hiện phải có hai nhân, không thể nào chỉ có một nhân mà có tiếp xúc, có duyên Xúc được. Như vậy không thể nào có nhiều duyên bởi chỉ có hai nhân, nên chỉ có một duyên Xúc mà thôi. Vì vậy không thể có quy luật Nhân biến đổi thành quả nhờ nhiều duyên trợ giúp.

 

3. Hai hệ quả quan trọng suy ra từ Lý Duyên Khởi

3.1. Tất cả các pháp đều Vô thường

Như vậy, các pháp do Nhân Duyên mà phát sinh, nghĩa là hai nhân tiếp xúc nhau rồi cùng diệt và phát sinh quả. Pháp là quả đó lại tiếp xúc với một nhân khác và rồi cùng diệt và phát sinh quả khác tiếp. Tiến trình cứ tiếp diễn miên viễn như vậy.

Vậy thì các pháp do duyên Xúc mà sinh, cũng do duyên Xúc mà diệt, nó sinh lên rồi diệt đi, chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, có thể rất ngắn ngủi, không tồn tại vĩnh viễn, nên nó không thường hằng. Trước khi có duyên Xúc, nó chưa được sinh ra, sau khi diệt đi nó không còn, nó chỉ hiện hữu, CHỈ CÓ MẶT DUY NHẤT MỘT LẦN, không lặp lại, nên không thường trú ở đâu cả. Các pháp sinh diệt, không thường hằng, không thường trú như vậy nên gọi là Vô thường.

Phải lưu ý rằng Vô thường là Sinh Diệt chứ không phải Vô Thường là Biến Đổi. Quán sát để thấy biết các pháp vô thường là quán sát theo chiều thời gian, theo tính chất Nhân diệt Quả mới sinh.

 

3.2. Tất cả các pháp đều Vô ngã

Khi quán sát quan hệ giữa các pháp sẽ phải quán sát theo chiều thời gian và không gian.

Theo chiều thời gian thì giữa Nhân và Quả không cùng tồn tại trong một thời điểm, nghĩa là nếu Nhân đang tồn tại thì Quả thuộc tương lai chưa sinh ra, nếu Quả đang tồn tại thì Nhân thuộc quá khứ đã diệt. Vì vậy giữa giữa Nhân và Quả không tồn tại Quan Hệ Sở Hữu, Quan Hệ Chủ Nhân. Giữa Nhân và Quả không thể tồn tại chữ “Của”. Không hề tồn tại quan hệ: tiếng trống là của cái trống, con của mẹ, hạt thóc của cây lúa, ánh sáng của đèn điện …

Theo chiều không gian thì giữa các pháp là hai nhân hoàn toàn bình đẳng, không có nhân chính, nhân phụ. Quan hệ giữa hai nhân là quan hệ tương tác và cùng diệt đi, không hề tồn tại quan hệ sở hữu, quan hệ chủ nhân. Ví như trống và dùi, xích và đĩa, mắt và sắc trần, lưỡi và viên đường, tay và cục nước đá … đều là hai nhân bình đẳng, không nhân nào sở hữu, chủ nhân của nhân nào. Quan hệ giữa các pháp chỉ có quan hệ TƯƠNG TÁC, không tồn tại quan hệ CHỦ NHÂN, không tồn tai quan hệ SỞ HỮU. Vì vậy tất cả các Sắc pháp và Danh pháp là VÔ CHỦ, VÔ SỞ HỮU (Vô Ngã).

Trong hiểu biết và đời sống nhân loại tồn tại một cái Ta mà tiếng Hán gọi là Ngã, là chủ nhân, chủ sở hữu của các Danh pháp và Sắc pháp, là chủ nhân, chủ sở hữu của Sắc Thọ Tưởng Hành Thức. Ta thấy, Ta nghe, Ta ngửi, Ta nếm, Ta xúc chạm, Ta nhớ, Ta tư duy, Ta nói, Ta làm, Ta hạnh phúc, Ta đau khổ, Ta tạo nghiệp, Ta gặt hái quả của nghiệp… nhà của Ta, xe của Ta, gia đình Ta, con Ta, đất nước Ta… Ta hơn, Ta kém, Ta bằng.

Phàm phu xoay quanh cái Ta này, tô bồi, bảo vệ, xung đột vì cái Ta này, tin rằng cái Ta này thực sự hiện hữu. Nhưng Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là pháp duyên khởi, đặc tính của nó là Vô chủ, nghĩa là không có bất kỳ một pháp nào, một cái gì là chủ nhân, chủ sở hữu của nó. Cái Ngã trong thấy biết của Phàm phu không có thật, chỉ là tư tưởng tà kiến do Tà Niệm – Tà Tư Duy tạo ra, là lý luận suông, là lông rùa sừng thỏ. Vô ngã là sự thật mà chỉ một mình Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, độc nhất vô nhị, từ cổ chí kim, chứng ngộ và thuyết giảng.

Tóm lại, Vô thường, Vô ngã là hai tánh chất, hai bản tánh, hai tự tánh của tất cả pháp, sẵn có nơi các pháp vì các pháp là do duyên khởi như đã chỉ rõ trên đây.

 

 

4. Vì sao Lý Duyên Khởi là định luật quan trọng bậc nhất trong giáo lý đạo Phật?

Trong Tương Ưng bộ Kinh, Kinh Vakkali có đề cập đến câu chuyện vị tỷ kheo Vakkali ốm bệnh lâu ngày. Khi Đức Phật đến thăm, Ngài hỏi Tôn giả Vakkali:

– Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?

– Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!

– Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?

– Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.

– Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?

– Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.

– Thôi đủ rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này? Này Vakkali, ai thấy Lý Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp người ấy thấy Ta.

Tuyên bố trên của Đức Phật đã khẳng định tầm quan trọng của Lý Duyên khởi, là giáo lý quan trọng bậc nhất, là nền tảng, cốt lõi trong giáo lý Đạo Phật.

Một người thấu suốt Lý Duyên Khởi cũng sẽ thấu suốt tính chất Vô Thường, Vô Ngã của các Pháp, từ đó xuất ly, không ràng buộc với bất kỳ Pháp nào.

 

5. Chấp Có, Chấp Không và Lý Duyên khởi

Hai cực đoan Chấp Có và Chấp Không là gì?

Bản chất của hiểu biết hay nhận thức của nhân loại là Nhị nguyên Tâm Cảnh, nghĩa là Con người là chủ thể nhận thức, chủ nhân của Tâm thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức; còn đối tượng được thấy, nghe, cảm nhận, nhận thức là Thế Giới, bao gồm thế giới vật chất và thế giới tinh thần (sắc và danh). Như vậy chỉ có hai phần : CON NGƯỜI (chủ thể nhận thức) và THẾ GIỚI (đối tượng được nhận thức). Nhưng THẾ GIỚI gồm thế giới vật chất và thế giới tinh thần được con người nhận thức lại chia làm hai quan điểm Duy vật và Duy tâm.

– Quan điểm Duy vật cho rằng THẾ GIỚI là do vật chất cấu thành và vật chất là thứ sẵn có, không được sinh ra cũng không mất đi mà chỉ biến đổi từ vật này sang vật khác, từ dạng này sang dạng khác. Tinh thần là sản phẩm do vận động của vật chất mà phát sinh và tinh thần sinh diệt theo sự vận động của vật chất. Như vậy, theo quan điểm Duy vật, thế giới là sẵn có, luôn luôn có, thường hằng, vĩnh viễn, không sinh không diệt.

Các pháp cũng sẵn có, luôn luôn có, thường hằng, thường trú, không sinh không diệt như ngọt sẵn có trong đường, mặn trong muối, ngon dở trong thức ăn, nóng trong lửa, lạnh trong nước đá, cứng mềm thô mịn nặng nhẹ trong hòn đá, trong địa đại, năng lượng, khối lượng sẵn có trong vật thể, không gian thời gian là thuộc tính sẵn có của thế giới, sự sống sẵn có trong tế bào…. Quan điểm này gọi là Thường kiến, còn gọi là Chấp Có. Chữ Có này không phải hiểu theo nghĩa có không, hay thật có giả có, mà hiểu là các pháp thường có, sẵn có, luôn luôn có, thường hằng.

– Quan điểm Duy tâm cho rằng THẾ GIỚI vật chất mà con người thấy nghe, cảm nhận, nhận thức này không thực có, mà chỉ là do Chúa, một thực thể tâm linh tuyệt đối hoá hiện ra. Như vậy, theo quan điểm Duy tâm thì chỉ có Chúa toàn năng, vĩnh cửu, là năng lực tinh thần tuyệt đối có thật, còn thế giới vật chất mà con người đang sống là không thật, là giả có do Chúa hoá hiện ra, điều khiển và quyết định tồn tại hay không tồn tại.

Các tôn giáo Duy tâm đều có chung quan điểm đó, nghĩa là có một thế giới tâm linh tuyệt đối có năng lực làm phát sinh và điều khiển thế giới vật chất (Các pháp do Tâm tạo) tuy tên gọi thế giới tâm linh có khác nhau. Quan điểm này là Đoạn kiến, còn gọi là Chấp Không. Chữ Không này không được hiểu theo nghĩa có không mà hiểu là không thật có, chỉ là giả có mà thôi.

Ví như một người khỏe mạnh nhai một khúc mía rồi khởi lên nhận thức: tôi biết khúc mía ngọt. Nghĩa là người này hiểu ngọt là vật chất, ngọt sẵn có, thường xuyên có nơi khúc mía, thường hằng, thường trú nơi khúc mía, ngọt của khúc mía. Hiểu biết đó là quan điểm Duy vật, là Thường kiến, là Chấp Có.

Nhưng cũng người đó bị bệnh cảm sốt đã 6, 7 ngày và nhai khúc mía đó nhưng cảm nhận khúc mía đắng. Lúc đó quan điểm Duy tâm sẽ giải thích rằng, ngọt hay đắng không có trong khúc mía, ngọt hay đắng là giả có, là không thật vì ngọt hay đắng là do Tâm tạo nên mà thôi. Giải thích như vậy là quan điểm Duy tâm, là Đoạn kiến, là Chấp Không.

Người thấu suốt Lý Duyên Khởi sẽ thấy biết đúng sự thật: Lưỡi (Căn) là một nhân và Mía (Trần) là nhân thứ hai, tiếp xúc với nhau sẽ phát sinh Cảm giác vị (ngọt hay đắng) và Thiệt thức (ghi nhận cảm giác vị đó). Sự thật thực tại đang xẩy ra là Thiệt thức ghi nhận đối tượng thực tại là Cảm giác vị (ngọt hay đắng), chứ không phải Thiệt thức biết khúc mía ngọt hay đắng. Cảm giác vị này là Tâm chứ không phải Vật chất, do duyên xúc mà phát sinh nên nó Vô thường, không thường hằng, không thường trú trong khúc mía. Cảm giác vị này trước khi sinh ra không ở trong Lưỡi, cũng không ở trong khúc Mía; sau khi diệt đi nó cũng không về trú ở đâu cả. Đồng thời, cảm giác vị này không phải của Lưỡi, cũng không phải của khúc Mía (nhân diệt quả mới sanh) nên nó là Vô Ngã.

Nhờ hiểu biết đúng sự thật như vậy mà chấm dứt cực đoan Thường kiến – Chấp Có. Đồng thời, cũng hiểu biết đúng sự thật rằng đối tượng thực tại được cảm nhận là Cảm thọ thuộc phàm trù tâm nhưng do Căn Trần tiếp xúc mà phát sanh chứ không phải do Tâm sanh, không phải do Tâm tạo nên chấm dứt được cực đoan Đoạn Kiến – Chấp Không. Mọi Danh pháp và Sắc pháp khác cũng phải được thấy biết đúng sự thật với Chánh trí tuệ như vậy.

 

Xem thêm bài viết: Chấp Có, Chấp Không và Lý Duyên Khởi – Đại Đức Nguyên Tuệ

 

6. Một số câu hỏi thường gặp về Lý Duyên khởi

  • Câu hỏi 1: Câu hỏi Hai nhân tương tác hay nhiều nhân?
  • Câu hỏi 2: Không có cái “TA” thì cái gì đang quan sát thực tại?
  • Câu hỏi 3: Căn – Trần tiếp Xúc phải có tác ý thì mới sinh ra “THỨC”?
  • Câu hỏi 4: Làm cách nào để Ứng dụng Lý duyên khởi khi tương tác trong cuộc sống?
  • Câu hỏi 5: Có ai là chủ nhân làm ra “lười nhác”, “đau khổ” không?

Mời bạn Xem nội dung trả lời cho các câu hỏi trên tại đây.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *