Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta)
Kinh Nhất Dạ Hiền Giả (Bhaddekaratta Sutta) là một trong những bài kinh nổi tiếng trong hệ thống kinh điển Phật giáo Nguyên thủy. Nội dung bài kinh trình bày lời dạy của Đức Phật về việc không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai và không bị lôi cuốn bởi các pháp hiện tại, từ đó giúp hành giả phát triển trí tuệ, sống tỉnh thức và thực hành đúng Chánh pháp.
Bài viết dưới đây giữ nguyên toàn bộ nguyên văn bài kinh cùng phần giải thích của Thiền sư Nguyên Tuệ, đồng thời được trình bày theo cấu trúc dễ đọc, thuận tiện cho việc nghiên cứu, học tập và tra cứu.
Duyên khởi
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ đà lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo:
“Này các Tỷ Kheo.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Các vị Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ Kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các ông: “Nhất Dạ Hiền Giả” (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết.
Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Các Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Bài kệ mở đầu
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển.
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết.
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Đức Phật giải thích ý nghĩa bài kệ
Thế nào là truy tìm quá khứ?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là truy tìm quá khứ.
Thế nào là không truy tìm quá khứ?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi… Như vậy là hành của tôi… Như vậy là thức của tôi trong quá khứ”; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là không truy tìm quá khứ.
Thế nào là ước vọng trong tương lai?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi… là hành của tôi… là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là ước vọng trong tương lai.
Thế nào là không ước vọng trong tương lai?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy;“Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là tưởng… sẽ là hành… sẽ là thức của tôi trong tương lai”, và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là không ước vọng trong tương lai.
Thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ Kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại?
Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ Kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ… không quán tưởng… không quán hành… không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Bài kệ kết thúc
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển.
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết.
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhất Dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Khi ta nói: “Này các Tỷ Kheo, Ta sẽ giảng cho các ông: ‘Nhất Dạ Hiền Giả’, tổng thuyết và biệt thuyết”, chính duyên ở đây mà nói vậy.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Thiền sư Nguyên Tuệ giải thích
Bài Kinh này nhằm trả lời và giải thích: thế nào là truy tìm quá khứ, thế nào là ước vọng tương lai, và thế nào là đắm chìm trong hiện tại.
a) Truy tìm quá khứ, ước vọng tương lai, đắm chìm trong hiện tại là tâm phàm phu, là lộ trình tâm Bát Tà Đạo:
– Truy tìm quá khứ và ước vọng tương lai để chỉ cho hành vi tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc nơi đối tượng dễ chịu trong quá khứ hoặc tương lai để thay thế cho một đối tượng trung tính, hành vi này gọi là Si. Trong đời sống hàng ngày con người luôn hồi tưởng về các sự kiện của quá khứ và vui buồn với nó, đây gọi là truy tìm quá khứ, con người cũng luôn sống với những dự định cho tương lai và vui buồn với những dự định này, đây gọi là ước vọng tương lai.
– Đối với hiện tại, khi có một đối tượng dễ chịu thì Tham khởi lên và ràng buộc với đối tượng đó. Khi có đối tượng khó chịu thì Sân khởi lên và cũng bị ràng buộc. Đây gọi là đắm chìm trong hiện tại.
b) Không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai, không đắm chìm trong hiện tại là tâm của bậc Thánh đã thành tựu hoặc đang thực hành Bát Chánh Đạo. Khi ở trên lộ trình tâm là Bát Chánh Đạo, sẽ kinh nghiệm được:
– Bất kỳ một tư tưởng nào về quá khứ khởi lên, không vui buồn với nó nên gọi là không truy tìm quá khứ.
– Bất kỳ một dự định về tương lai khởi lên, không vui buồn với nó nên gọi là không ước vọng tương lai.
– Bất cứ một cảm giác nào đang khởi lên, không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy, nên gọi là không đắm chìm trong hiện tại.
Chủ nghĩa hiện sinh chủ trương sống trong hiện tại, sống với những gì đang xảy ra (đang là), chấm dứt suy nghĩ về quá khứ và tương lai, có vẻ đúng như bài kinh này mô tả, nhưng nếu quán sát kỹ thì đó là đắm chìm trong hiện tại (thích thú hiện tại).
Cũng tương tự như bài Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikāya), chương 1 – tương ưng chư thiên, phẩm cây lau, Đức Phật trả lời câu hỏi:
– Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
– Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
– Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
– Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
Đứng lại thời chìm xuống tức đắm chìm trong hiện tại, chỉ cho Tham, Sân.
Bước tới lại bị cuốn trôi tức truy tìm quá khứ, ước vọng tương lai, chỉ cho tâm Si.
Không đứng lại, không bước tới chỉ cho sự đoạn tận Tham Sân Si, đây gọi là vượt qua bộc lưu vì khi Tham, Sân, Si được đoạn tận thì bộc lưu cạn kiệt thì ngay đó là thật địa, là bờ.
Ý nghĩa của Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
Từ lời dạy của Đức Phật trong Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, người học Phật có thể rút ra một số điểm cốt lõi:
- Không truy tìm những niềm vui hay đau khổ của quá khứ.
- Không nuôi dưỡng sự mong cầu và bám chấp vào tương lai.
- Không bị cuốn theo tham, sân, si đối với các pháp đang diễn ra trong hiện tại.
- Phát triển chánh niệm và trí tuệ để thấy rõ bản chất của các pháp.
- Tinh tấn tu tập trong hiện tại vì không ai biết được ngày mai sẽ ra sao.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Kinh Nhất Dạ Hiền Giả nói về điều gì?
Bài kinh dạy cách không truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai và không bị lôi cuốn bởi các pháp hiện tại để phát triển trí tuệ và giải thoát.
Bhaddekaratta có nghĩa là gì?
“Bhaddekaratta” thường được dịch là Nhất Dạ Hiền Giả, chỉ người biết sống tỉnh giác, tinh tấn và an trú trong Chánh pháp.
Ai là người giảng bài kinh này?
Đức Phật thuyết giảng bài kinh cho các vị Tỷ Kheo tại tịnh xá Cấp Cô Độc, thuộc Jetavana (Kỳ Đà Lâm), Savatthi (Xá-vệ).
Ý nghĩa nổi bật nhất của bài kinh là gì?
Thông điệp nổi bật là đoạn trừ sự dính mắc vào quá khứ, tương lai và các pháp hiện tại để hướng đến giải thoát.
