Con đường cách mạng giáo dục chuyển hóa

Con đường cách mạng giáo dục chuyển hóa

Phần 01: Quá trình đi tìm kiếm cái gốc rễ của giáo dục.

Hơn 10 năm, từ khi là sinh viên năm 01 của ĐH Xây Dựng, mình đã lang thang đi học hết chỗ này, chỗ nọ về phát triển bản thân, sau đó là về phát triển đội ngũ.
Tới 2015 biết tới giáo dục khai phóng.
Tới 2017 biết tới đạo học.
Cuối 2017 biết tới lời dạy Phật một cách đời sống, khoa học qua các lớp học của thầy Trần Việt Quân và từ đó mở ra một hướng đi mới trong cuộc đời.
T7/2020 tham gia xuất gia gieo duyên ở chùa Huyền Không – Huế, như một tiếng sấm bên tai trong con đường tu tập, có duyên biết tới HT Viên Minh, bậc minh sư mà mình rất tương hợp với pháp mà Ngài đã thuyết giảng, thực hành có kết quả.
T12/2022 trong thâm tâm thấy hơi thất vọng, bế tắc trong việc trả lời cho câu hỏi “thực tại là gì?” “sự thật là gì”. Bỏ qua tất cả những “lý thuyết” đầy tính triết học đã tích lũy trước đây, mà không làm sao hiểu và chạm được vào điều này.
 
Bản thân cũng đã thực hành thiền với phương pháp của nhiều vị thiền sư nổi tiếng nhưng mình không tương hợp được.
Lúc đó, mình hiểu một điều “muốn là một người kỹ sư giỏi, anh ta phải đọc được bản vẽ, muốn là một người băng rừng giỏi, anh ta phải dùng được la bàn, muốn là một người bác sĩ giỏi, anh ta phải hiểu được cấu trúc cơ thể. Cũng vậy, đạo Phật là đạo của tâm, mà muốn tu tập đúng, phải hiểu được lộ trình tâm thế nào?”
Trong các bài giảng trên youtube thì chỉ có thiền sư Nguyên Tuệ là giảng kỹ, mình biết thầy từ 03 năm trước, nhưng cũng chỉ biết sơ sơ, học vài buổi, nhưng không lĩnh hội được.
Sau đó nghiến răng đăng ký khóa 09 ngày, mặc dù không hào hứng lắm, nhưng vẫn đi, vì chưa có pháp hành nào, mình tương hợp để thực hành một cách rốt ráo cả.
Và sau 9 ngày, một con đường mới đã được xác quyết, con đường Nhất Hướng như lời Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết. Nhưng sự nhất hướng này bản chất chính là thay đổi cái gốc rễ của con người là Cái Thấy và Cái Biết chứ không phải nhất hướng ở Hành Vi, Lời Nói.
Bố thí, giữ giới, sống biết đủ là thay đổi hành vi. Nó không phải gốc rễ, tuy nhiên, nó trợ duyên được trong quá trình thực hành.
Mọi thứ càng sáng rõ hơn, khi đầu 2023, Trí Tuệ Việt Nam chọn tầm nhìn về một cuộc cách mạng giáo dục chuyển hóa gốc rễ. Và giờ đây, khi hệ thống phương pháp học-hành đã rõ ràng, nhất quán, thì tầm nhìn này không còn xa vời, hay mơ mộng.

Phần 02: Gốc rễ của giáo dục chính là thay đổi cái Thấy và cái Biết

Dường như sau tất cả, giáo dục là công cụ của con người để phục vụ cho các nhu cầu, mà bản chất chính là tham muốn. Chính tham muốn này khiến cho con người cần nỗ lực.
May ra, chỉ có một số ít những triết gia, những học giả họ có cái nhìn khác đi, đi tìm kiếm cái ý nghĩa sâu thẳm của mục đích và ý nghĩa cuộc đời, tìm được nó như tìm được long mạch của sự sống.
Krishnamurti nói “Giáo dục chính là thấu hiểu chính mình” và nữa “kẻ dốt nát không phải là kẻ thiếu hiểu biết, mà là kẻ không hiểu biết về diễn trình tâm lý của chính mình”.
Tác giả Nguyễn Duy Cần thì viết “Biết mình là cái học đầu tiên của người tri thức”
Obama thì nói “Chương trình chống nghèo đói tốt nhất là một nền giáo dục ở đẳng cấp thế giới”.
Nhưng rồi sau no đủ, sau cái biết mình đó thì là cái gì, liệu còn chỗ nào để người ta tìm kiếm nữa không? Hay lại là một khoảng trống mênh mông sau khi chinh phục được một ý nghĩa nào đó.
Và tất cả chỉ dừng lại ở vậy, ai cũng biết nhờ giáo dục mà mọi thứ được giải quyết nhưng cái gốc rễ nào của giáo dục để giải quyết đến tận cùng những vấn nạn đó thì chẳng mấy ai chỉ ra được.
Chúng ta có xu hướng tạo ra một đường lối, và đi tìm kiếm những người có đường lối chung đó và gọi đó là một xã hội văn minh, hạnh phúc và sẵn sàng phá hủy những gì không theo đường lối đó.
 
 
Vậy có con đường nào cho bài toán tận cùng của giáo dục hay không? Để đằng sau cái ý nghĩa này, người ta lại không rong ruổi đi tìm một ý nghĩa khác thâm sâu, vi diệu hơn nữa và gọi đó là ý nghĩa cuộc đời.
Và “hiểu mình” là gì? “Biết mình” là gì? Liệu rằng có phương pháp nào để giải mã tất cả điều này hay không? Hay mọi thứ đều chỉ dừng ở những khái niệm mơ hồ trừu tượng.
 
Câu trả lời là có. Một phương pháp giáo dục không mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng, màu da, sắc tộc… Phương pháp này do Đức Phật Thích Ca đã khám phá và truyền dạy.
Có một trường phái đưa ra một lập luận về cây bút. Nếu một con chó nhìn cây bút thì nó là gì? Nếu một người nhìn cây bút nó là gì? Từ đó lập luận ra Tánh Không của vật chất.
Vậy thì lập luận trên vẫn dựa vào Cái Thấy và Cái Biết đi liền nhau.
Cái Thấy ghi nhận đối tượng một cách thuần túy do căn (giác quan) tiếp xúc với trần (ngoại cảnh) mà phát sinh.
Cái Biết thì biết đặc tính, tính chất của đối tượng đó là gì? Ra sao dựa trên các thông tin được lưu trữ trước đây. Cái Biết phát sinh do tiến trình kích hoạt thông tin trong kho chứa và so sánh đối chiếu với đối tượng thực tại.
 
Hơn nữa, quan điểm thực tại của lập luận trên, lúc thì nó là đồ chơi của con chó, lúc thì nó là cái bút của con người. Vậy “cái bút” đó đóng 2 vai trò.
Chính vì không quan sát được sự thật về thực tại. Do căn (giác quan) và trần (ngoại cảnh) tương tác mà phát sinh ra cảm giác (06 loại cảm giác: hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, pháp trần), từ đó khi “Cái bút” tương tác với mắt của con người sẽ phát sinh cảm giác hình ảnh A, tương tác với mắt của con chó sẽ phát sinh cảm giác hình ảnh B. Vậy thứ mà con người và con chó thấy là 02 đối tượng hoàn toàn khác nhau, chứ không phải cùng “thấy một đối tượng” như lập luận trên đưa ra. Cho nên không thể nào nói “cái bút đóng 2 vai trò” được.
Đức Phật đã chỉ ra phương pháp thực hành để thân chứng cái thấy hoàn toàn “vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt” và cũng là thân chứng tánh không (không tánh giải thoát) khi thực hành Quán Thân nơi Thân. Hay ngôn từ đơn giản là thực hành Cái Thấy khi làm việc không quên cảm giác nổi trội nơi thân.
Chỉ cần ngậm chặt răng lưỡi để tạo cảm giác nổi trội nơi thân, sau khi ghi nhận cảm giác nổi trội thì khởi lên niệm “Thấy-Thấy”.
Cứ thực hành liên tục như vậy sẽ thân chứng được cái Thấy thuần túy, không suy nghĩ gì về cái đối tượng được thấy.
Đó là cách thực hành cái thấy và thân chứng về Tánh Không.
Thân chứng Tánh Không tức là nhìn mà không suy nghĩ về đối tượng chứ không phải dùng lý luận để suy tư về tính không của đối tượng.
Đức Phật đã nói “pháp này đến để mà thấy”, “vượt qua lý luận suông, dành cho người có trí tự mình giác hiểu”.
 

Phần 03: Phương pháp thực hành Cái Thấy để thân chứng cái thấy thuần túy, vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt.

Hầu hết các phương pháp giáo dục hiện đại đều hướng về tỉnh thức, chánh niệm, quản lý cảm xúc, EQ, vv.vv..
Nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đưa “thiền”, “chánh niệm” vào công việc như một liệu pháp chữa lành tâm lý cho nhân viên, qua đó có sự sáng tạo hơn, tâm lý ổn định hơn trước những áp lực lớn trong công việc.
Khi đọc sách về thiền thì có lẽ mọi người sẽ rất quen với quan điểm :”Thiền chính là nhìn mọi thứ như nó đang là, chứ không sẽ là, phải là, nên là…”.
Nhưng sau tất cả phương pháp thực hành nào để “nhìn mọi thứ như nó đang là” thì cần làm rõ nét, nếu không mỗi người lại có quan điểm “nó đang là” một cách của riêng mình. “Nó” là gì? Và thế nào là “đang là”?

1- Cái Thấy là gì? “Nó” là gì?

Đầu tiên, tôi nói “nếu vị ngọt không nằm sẵn trong đường” thì bạn có tin không?
Hãy cùng quán sát sự thật. Nếu như lưỡi chưa đưa vào miệng, thì vị ngọt nằm ở đâu? Sự thật là: Lưỡi tiếp xúc với đường => thiệt thức thấy cảm giác vị.
Thiệt thức là Tâm Thấy, cảm giác vị là đối tượng được thấy, chính là “nó”. Nó đang là tức là “cảm giác”.
Tương tự như vậy với sự tiếp xúc của các giác quan khác (căn) với ngoại cảnh (trần).
Cái thấy chính là tâm thấy đối tượng (Cảm giác) một cách thuần túy chưa có xen ý thức (nhận biết tính chất, nó là gì vào).
“Nhìn mọi thứ như nó đang là” chính là cái thấy thuần túy, vô niệm, vô ngôn, vô phân biệt.
Trong kinh điển Phật giáo, có một đoạn Đức Phật nói với ông Bàhiya :”Này Bāhiya, khi nào đối với ngươi, trong việc thấy sẽ là thuần túy việc thấy, trong việc nghe sẽ là thuần túy việc nghe, trong việc cảm giác sẽ là thuần túy việc cảm giác, trong việc nhận thức sẽ là thuần túy việc nhận thức, này Bāhiya, khi ấy ngươi không là với điều ấy. Này Bāhiya, khi nào ngươi không là với điều ấy, này Bāhiya khi ấy ngươi không là trong đó. Này Bāhiya, khi nào ngươi không là trong đó, này Bāhiya khi ấy ngươi đương nhiên không là ở đây, không là ở kia, không là ở khoảng giữa của cả hai. Chính điều này là sự chấm dứt của Khổ.”

2- Thực hành cái thấy để “nhìn mọi thứ như nó đang là thế nào”?

Đức Phật khẳng định 4 niệm xứ (niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp) là con đường “độc nhất” để thành tựu chánh trí.
Niệm là nhớ. Niệm thân là nhớ đến thân, không quên thân. Tương tự như vậy với thọ, tâm, pháp.
Thực hành niệm thân là phương pháp thực hành mà không cần học quá nhiều giáo lý về 4 thánh đế, lý duyên khởi, 8 chánh đạo, lộ trình tâm, … cho nên khi được thực hành phương pháp này, TTVN đã lựa chọn để đưa vào hệ thống giáo dục mà TTVN đang triển khai.
Thực hành niệm thân hay là thực hành chú tâm không quên thân (chú tâm không tập trung vào đối tượng nào, mà chú tâm theo tiến trình sinh diệt của 6 loại cảm giác đan xen với cảm giác nổi trội nơi thân).
Cổ nhân có nói “làm gì thì cũng đừng mất mình”, hay thiền học có cụm từ “không quên mình theo vật”. Vậy thế nào là không mất mình, quên mình. Chính là làm gì cũng không quên cảm giác nổi trội nơi thân và ở đây, chỉ cần ngậm chặt răng lưỡi là đã có cảm giác nổi trội rồi.

Bước 01: Nhớ đến việc phải chú tâm không quên thân bằng việc “ngậm chặt răng lưỡi”.

Cảm giác nơi răng lưỡi rất thường trực, liên tục và dễ tạo ra vì lưỡi có nhiều dây thần kinh.
 

Bước 02: Khi nghe-nhìn-cảm thấy điều gì chỉ cần khởi lên “thấy-thấy” đối tượng đó.

Khi phải nói-ăn thì chỉ cần nhớ đến cảm giác nơi răng lưỡi tiếp xúc hoặc cảm giác nơi ngón tay xoa vào nhau cũng được (miễn là cảm giác nổi trội nơi thân).
Vậy TTVN đã đưa phương pháp thực hành này cho những đối tượng nào?
– Nội bộ đội ngũ thực hành liên tục, nhắc nhau thực hành mỗi ngày
– Học sinh cấp 2-3 và sắp tới là sinh viên qua các lớp online, offline trại hè
– Các học viên, thủ lĩnh trong CLB.

3- Kết quả của việc thực hành cái Thấy (chú tâm liên tục không quên thân).

– Tâm trạng tích cực (không uể oải, lười biếng) – vui, thoải mái (bình an, bình thản).
– Ít suy nghĩ linh tinh, chỉ suy nghĩ khi cần làm việc.
– Chú tâm, không phân tâm nên làm việc hiệu quả hơn, không bị ràng buộc bởi thành-bại bởi kết quả.
– Sống thích nghi, tự lập với nhiều hoàn cảnh hơn: ăn, uống, mặc, làm, ngủ… không kén chọn, không kêu ca, than vãn.
– Sống hòa đồng nhưng cũng không quyến luyến với mọi người xung quanh.

4- Diễn tiến lộ trình tâm khi thực hành niệm thân

Căn (giác quan) và Trần (ngoại cảnh) tiếp xúc => phát sinh Cái thấy (tưởng) Thọ (cảm giác) => chánh niệm => chánh tinh tấn => chánh định => (tỉnh giác)

Tác giả: Đỗ Quang Minh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *