CÓ PHẬT THẬT KHÔNG?

Đối với người Phật từ, câu hỏi này được xem là tà kiến, là của ngoại đạo, là sự phỉ báng đối với Đạo Phật. Và câu trả lời của họ là một khẳng định: Đức Phật là một con người có thật, đã được sinh ra, đã giác ngộ và đã nhập diệt tại Ấn Độ cách nay hơn 2.600 năm trước. 

Câu trả lời đã được mặc định như vậy và hầu như không có người nào có ý định phản biện lại điều đã được mặc định này. Tuy nhiên cần phải suy xét cẩn thận, kỹ càng và cần có câu trả lời hợp lý, chính xác cho câu hỏi: Có Phật thật không, hay chỉ là truyền thuyết? Vậy có chứng cứ gì đầy đủ và hợp lý, yếu tố cần và đủ để khẳng định Đức Phật là có thật? 

Nếu lấy kinh điển để khẳng định Đức Phật là có thật thì trong hai trường phái lớn của Phật giáo là Nam Tông và Bắc Tông lại có những cứ liệu sai khác. 

  • Bắc tông ghi nhận thái tử Tất-Đạt-Đa xuất ra khi 19 tuổi. Sau 5 năm tìm đạo, 6 năm Khổ hạnh rừng già thì chứng đạo vào năm 31 tuổi, thuyết Pháp 49 năm và nhập diệt vào năm 80 tuổi. Ngài sinh vào mùng 8 tháng 4, thành đạo vào mùng 8 tháng 12 và nhập diệt vào 15 tháng 2. 
  • Nam Tông ghi nhận thái tử Tất Đạt Ta xuất gia năm 29 tuổi. Sau một thời gian ngắn tìm đạo và 6 năm khổ hạnh rừng già thì chứng đạo vào năm 35 tuổi, thuyết pháp 45 năm và nhập diệt vào năm 80 tuổi. Ngày sinh, thành đạo và nhập diệt đều là 15 tháng 4 âm lịch. 

Người Phật tử Bắc Tông và Nam Tông đều chấp thủ vào cứ liệu của mình và phủ nhận cứ liệu của người khác. Nếu thực sự khách quan sẽ thấy rằng không thể dùng cứ liệu Bắc Tông mà bác bỏ cứ liệu Nam Tông và ngược lại, không thể dùng cứ liệu Nam Tông để bác bỏ Bắc tông. 

Vì sao vậy? Là tại vì không tồn tại một con người nào đã sống vào thời đó, đã chứng kiến, đã mắt thấy tai nghe để có thể xác nhận cho cứ liệu trong kinh điển của Bắc Tông hoặc Nam Tông cái nào đúng, cái nào sai. Cho dù khảo cổ học đã khai quật một số bia đá của vua A-Dục được cho là ghi lại những lời dạy của Đức Phật, nhưng đó cũng chỉ là suy luận của ngày nay và đó cũng chưa phải là yếu tố cần và đủ để khẳng định có Phật thật. 

Kinh điển có nhắc đến “Khi Đức Phật chứng đạo, Ngài đã không muốn thuyết giảng điều mà Ngài đã chứng ngộ: Pháp mà ta chứng được sâu kín, khó thấy khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt qua mọi tư duy lý luận suông,  tế nhị, chỉ có người trí mới có khả năng giác hiểu. Còn quần chúng này ham thích ái dục, ưa thích ái dục, bị ái dục chi phối nên rất khó lãnh hội pháp này. Và nhờ một vị Phạm Thiên thưa thỉnh, Ngài mới thuyết giảng pháp mà Ngài đã chứng ngộ”.  

Không thể lấy chi tiết này thì khẳng định thái tử Tất Đạt Đa đã giác ngộ, đã thành Phật và nhờ Phạm Thiên thưa thỉnh Ngài mới thuyết pháp cho nhân loại, vì đây là một chi tiết phi lý. Vì rằng Phạm Thiên cũng chỉ là một kẻ phàm phu như bao phàm phu khác, chưa hề biết giác ngộ là như thế nào thì sao có thể biết đó là Phật, biết đó là Bậc đã giác ngộ mà thưa thỉnh thuyết pháp. Ở trong kinh điển có nói đến Xá-Lợi-Phất, một vị A-La-Hán được cho là Đại trí tuệ, cũng không biết được tâm Phật, huống nữa là Phàm phu như Phạm Thiên. 

Tại thời điểm mà thái tử Tất-Đạt-Đa thành bậc Chánh Đẳng Giác thì tất cả Trư Thiên và loài người đều là Phàm phu. Vậy không ai có thể biết được thái tử đã Chánh đẳng Giác. Và nếu giả sử Ngài tuyên bố “Ta đã thành Phật” thì liệu Phàm phu có tin không, có chấp nhận không và có ai có đủ tư cách pháp nhân để công nhận Ngài đã thành Phật không? Vậy thì kinh điển, các tư liệu và bộ môn lịch sử ghi chép lại, các công trình được khảo cổ học khai quật chưa phải là yếu tố cần và đủ để khẳng định có Phật thật. 

Vậy thì đối với người Phật tử đang tu học, câu trả lời hợp lý cho câu hỏi có Phật thật không, hay chỉ là truyền thuyết phải là:TÔI TIN CÓ PHẬT THẬT. Nhấn mạnh là TÔI TIN chứ không phải TÔI KHẲNG ĐỊNH có. Câu trả lời TÔI TIN CÓ PHẬT lại chia ra 2 trường hợp: tôi tin với Chánh Kiến tức Chánh Tín và tôi tin với Tà Kiến tức Mê Tín. 

Người tin có Phật với mê tín thì xem Phật là thần linh tối thượng, giáo chủ cõi Ta Bà, điều khiển cả vũ trụ này, thưởng phạt người làm thiện làm ác. Phật chứng cho lòng thành của ta, chứng cho mọi việc thiện, việc tu hành của ta, phù hộ ta trong cuộc sống.

Người tin có Phật thật với Chánh Tín là sau khi được nghe giảng hoặc nghiên cứu kinh điển có được hiểu biết đúng như thật Văn Tuệ về Lý Duyên khởi mà từ đó hiểu biết đúng như thật tất cả các Danh pháp và Sắc pháp đều vô thường, vô chủ, vô sở hữu, vô ngã. Hiểu biết đúng như thật với Khổ, nguyên nhân Khổ, Khổ diệt và con đường Khổ diệt. Sau khi có Văn Tuệ, người đó tiếp tục tư duy Tư Tuệ về điều đã học và đối chiếu với những sự thật cuộc đời đang xảy ra và thấy ra rằng: nhân loại cũng có hiểu biết về Danh và Sắc, về Khổ – Tập – Diệt – Đạo nhưng hoàn toàn sai với sự thật, trái ngược với giáo pháp mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ và thuyết giảng. Người đó thấy quả thật là giáo pháp thậm thâm vi diệu, chỉ người trí mới có khả năng giác hiểu và phát sinh đức tin chân chánh đối với giáo Pháp. Khi đã có Chánh Tín về giáo pháp, người đó cũng suy tư và kết luận: Người nói ra giáo pháp này phải là một bậc kỳ diệu, một con người đã Giác Ngộ, Do vậy Chánh Tín khởi lên, tin rằng có Phật thật, là vị đã thuyết giảng giáo pháp thậm thâm vi diệu này.

 

Vậy có Phật thật hay không? Có Phật thật chứ không phải là truyền thuyết tạo dựng nên. Nhưng khẳng định có Phật thật chỉ xảy ra đối với một người đã giác ngộ và theo thuật ngữ Phật học gọi là một vị A-La-Hán. Chỉ có vị A La Hán mới là người có tư cách pháp nhân khẳng định có Phật thật. Từ đức tin có Phật thật đến biết như thật, khẳng định có Phật thật là một quá trình thực hành và nó chỉ dành cho người trí chứ không phải cho tất cả mọi người. Đó là người đã có Văn Tuệ và Tư Tuệ đầy đủ mới có thể thực hành Bát Chánh Đạo. 

Vậy phải tự tập Bát Chánh Đạo cho đến mức độ như thế nào thì mới khẳng định được có Phật thật? Cho dù vị ngữ học đó thực hành Chánh niệm về Thân – Thọ – Tâm – Phát và an trú Chánh Niệm Tỉnh Giác trong mọi tư thế đi đứng nằm ngồi và nhờ vậy mà an trú tâm giải thoát gần như suốt thời gian cả ngày đêm nhưng vẫn chưa thể khẳng định có Phật thật. Cho dù vị đó an trú Chánh Định một cách không khó khăn, một cách không mệt nhọc, nghĩa là tùy theo ý muốn vị đó ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với chú tâm có tầm có tứ; Diệt trừ tâm có tầm có tứ, chứng và trú Nhị thiền một trạng thái hỷ lạc do Định sanh với chú tâm không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú Xả, thân cảm Lạc thọ, Chánh niệm tỉnh giác, chứng và trú Tam thiền. Xả lạc xả khổ, diệt trừ hỷ ưu, chứng và trú Tứ thiền, tâm thanh tịnh nhờ xả thì vẫn chưa thể khẳng định có Phật thật.

Nhờ có Chánh niệm và Chánh Định  như vậy, Chánh kiến sẽ khởi lên nơi bị ấy, nên khi thấy, nghe, cảm nhận những đối tượng của thực tại, trí tuệ sẽ biết như thật các đối tượng đó là các Cảm Thọ, Cảm Giác do Căn Trần tiếp xúc mà phát sanh, nó vô thường, vô chủ, vô sở hữu, vô ngã, có vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly. Nói theo cách khác là biết như thật Khổ, nguyên nhân Khổ, Khổ diệt và con đường Khổ diệt. Nhờ Chánh kiến như vậy, vị ấy an trú phần lớn thời gian trong ngày với Tuệ giải thoát. Tuy vậy vẫn chưa thể khẳng định có Phật thật. 

Cho đến thời điểm mà cả ba chi phần quan trọng, cốt lõi của Bát Chánh Đạo là Chánh Niệm, Chánh Định, Chánh Kiến, gọi tắt là Niệm, Định, Tuệ được phát triển, được tu tập cho đến viên mãn thì một sự đột chuyển thẳm sâu trong tâm thức xảy ra, cụ thể là lượng thông tin Minh sẽ xóa bỏ thông tin Vô Minh trong kho chứa hay trong bộ nhớ của tâm thức. Lúc đó Chánh Trí sẽ khởi lên, vị ấy tự mình biết đúng sự thật sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại thế gian này nữa. Cho đến lúc đó, vị ấy mới tự thấy tự biết, mới khẳng định có Phật thật.

 Vì sao vậy? Vì tại thời điểm đột chuyển đó, không cần một thầy tổ hay vị Phật nào giúp đỡ hay xác nhận, vị đó tự mình thấy, tự mình biết như thật về vô thường, về khổ, về vô ngã, về Niết bàn, khổ diệt. Với tâm của mình, khi vị đó hướng đến một pháp nào, cho dù pháp đó có tinh xảo, vi tế đến đâu thì vị đó vẫn tuệ tri nó một cách dễ dàng ngay nơi lộ trình tâm Bát Chánh Đạo của mình. Vị đó tuệ tri Không, Vô tướng, Vô tác, Tuệ tri Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Tức, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, tuệ trị Diệt Đế và Đạo Đế. 

Vị đó biết rõ các pháp đó như biết rõ quả xoài trong lòng bàn tay. Chỉ đối với người đã thân chứng như vậy mới khẳng định Khổ Diệt hay Niết Bàn là có thật, Tứ Thánh Đế là có thật và đương nhiên khẳng định người thuyết giảng được giáo pháp vi diệu mà theo đó ta đã thực hành và thân chính được Tứ Thánh Đế phải là một bậc Chánh Đẳng Giác và do đó khẳng định sự hiện hữu của bậc Chánh Đẳng Giác, của vị Phật Toàn Giác hơn 2.600 năm trước tại Ấn Độ là CÓ THẬT, không phải là truyền thuyết tạo dựng lên.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *